Phật Mẫu Chuẩn Đề

Phật Mẫu Chuẩn Đề
Tên Phạn: Cundī Buddha
Trong hình trên, phía sau Ngài là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát
Cao nhất là: Phật A Di Đà 
  • Update mới nhất 01/12 năm 2019.
  • Lưu ý: Một số vị Thầy khuyên nếu hành trì đà la-ni Phật Mẫu Chuẩn Đề thường cho những ai còn độc thân, đã kết hôn có gia đình thì không nên hành trì.

play_circle_filled
pause_circle_filled
Diễn đọc: Phật Thuyết Kinh Thất Ức Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn đề Thần Chú
save_alt
volume_down
volume_up
volume_off

(Nghe Phật Thuyết Kinh Thất Ức Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn đề Thần Chú)

Nguồn của Kinh audio mp3


Hình tướng Bồ tát Chuẩn Đề:

Theo kinh “Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni”, kim thân của Bồ tát có thân màu vàng lằn điển quang trắng: màu vàng tượng trưng cho Thai Tạng Giới, màu trắng tượng trưng cho Kim Cương Giới. Màu vàng trắng biểu thị cho nghĩa “Lý Trí chẳng hai, Định Tuệ một thể” và biểu thị cho Đức Năng Sinh của chư Phật.

Ngài chỉ ngồi kiết già trên tòa sen, toàn thân có hào quang, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng, trên đầu có điểm ngọc anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ “vạn”. Hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu, hai tai trái có đeo ngọc bửu đương.

Trên đầu Ngài đội mão Hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai. Nơi mặt Ngài có 3 con mắt, trong mỗi con mắt ấy ánh lên nét nhìn sắc xảo, dường như đang quán chiếu khắp mười phương mà sinh lòng từ mẫn cứu giúp chúng sinh. Ba mắt là Phật Nhãn, Pháp Nhãn, Tuệ Nhãn – biểu thị cho nghĩa “Ba Đế chẳng dọc chẳng ngang, nhất như bình đẳng”.

Thân Ngài có mọi loại trang nghiêm tỏa ánh hào quang tròn sáng rực lửa: Sắc Pháp biểu thị cho nghĩa của Thai Tạng Giới. Mọi loại biểu thị cho các Pháp như cát bụi. Trang nghiêm biểu thị cho nghĩa Bồ tát dùng phiền não làm Bồ đề. Ánh hào quang tròn sáng rực lửa biểu thị cho nghĩa Tâm Pháp của Kim Cương Giới là Trí hay phá mọi ám chướng của Tâm hư vọng.


Thân Ngài có mọi loại trang nghiêm tỏa ánh hào quang tròn sáng rực lửa: Sắc Pháp biểu thị cho nghĩa của Thai Tạng Giới.

Toàn thân của Ngài có mười tám cánh tay, trên mỗi cánh tay đều đeo vòng xuyến khảm xà cừ và cầm các pháp khí biểu thị cho các Tam Muội Gia.

1/2.   Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn Đề, như tướng đương lúc thuyết pháp.

3/4.   Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt kiết ấn thí vô úy.

5/6.   Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm.

7/8.   Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu.

9/10.   Tay trái thứ năm cầm một sợi dây kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả.

11/12.   Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa.

13/14.   Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.

15/16.    Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang.

17/18.    Tay trái thứ chín cầm một cuốn kinh Bát Nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài.

Ngài ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu tượng của Ngài đại lược như vậy, nếu ai có lòng trì niệm, muốn chiêm vọng và quán tưởng thì vọng niệm chẳng sinh mà chân tâm hiển hiện.

Những pháp khí Bồ tát cầm nắm ở hai tay trái phải khác nhau mang ý nghĩa thâm sâu trong diệu dụng độ sinh của Ngài. Tay phía bên phải Bồ tát nắm những khí vật hung dữ như chày, móc câu, búa… là những vật dụng để hàng phục chúng sinh cang cường, khiến họ quy hướng Chánh pháp. Còn tay phía bên trái lại gồm các vật báu như hoa sen, dải lụa, hộp kinh… có nghĩa là sau khi đã hàng phục lại ban phát cho chúng sinh những thánh tài Phật pháp để họ có thể tu tập giải thoát. Hình ảnh Bồ tát cầm nắm pháp khí sai khác như thế là nhằm biểu lộ uy lực vĩ đại trong việc hàng trừ ma chướng và công năng màu nhiệm ủng hộ người tu của Ngài.

Ngài ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu tượng của Ngài đại lược như vậy, nếu ai có lòng trì niệm, muốn chiêm vọng và quán tưởng thì vọng niệm chẳng sinh mà chân tâm hiển hiện. Nếu công phu thuần thục lâu rồi, chẳng có chút gì gián đoạn, thì sẽ đặng phước quả rất rộng lớn, có ngày đạt tới nơi cực quả Bồ đề.

Trong Kim Cương Giới thì Chuẩn Đề được nhận biết dưới danh hiệu Kim Cương Hộ Bồ tát (Ràksïa Bodhisattva) là một trong bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật Thích Ca ở phương Bắc.

Nguồn bài ở trên: phatgiao.org.vn


Phật Thuyết Kinh Thất Ức Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà la-ni

 Lúc bấy giờ Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ. Khi ấy Thế Tôn tư duy quán sát. Vì thương xót các chúng sanh ở vị lai, Ngài thuyết Pháp Chuẩn đề Đà la-ni này, là tâm của bảy ức Phật mẫu. Đức Phật liền nói chú rằng:

Chân Ngôn Đà la-ni Phạn ngữ có phiên âm Việt với (dịch nghĩa):

Namaḥ Saptānāṃ Samyaksaṃbuddha Koṭīnāṃ Tadyathā Oṃ Cale Cule Cundī Svāhā
Nam Ma Sắp Ta Nam, Săm Dắc Săm, Bu Đà, Khô Ti Nam, Thát Dà Tha, Ôm Tra Lề, Tru Lề, Trun Đì, Sô Hà
(Con quy y với mẹ của bảy chục triệu hoàn hảo giác ngộ chư Phật. Đây là câu thần chú: Oṃ! Sự thanh tịnh của Chuẩn Đề, Chuẩn Đề, Điều này là sự thật)!


play_circle_filled
pause_circle_filled
Cundī Dhāraṇī
save_alt
volume_down
volume_up
volume_off
  • Tâm Tịnh thâu âm trì tụng Đà la-ni Phạn ngữ của Phật Mẫu Chuẩn Đề.

play_circle_filled
pause_circle_filled
Maha Cundī Sanskrit Dhāraṇī- Bodhicitta Music
volume_down
volume_up
volume_off

  • Ban nhạc Bodhicitta Music ca hát và trì tụng thật đẹp Đà la-ni Phạn ngữ của Phật Mẫu Chuẩn Đề.

Dịch nghĩa mỗi chữ Phạn ngữ:

Namaḥ: Con quy y với mẹ
Saptānāṁ: Bảy
Samyaksam: Hoàn hảo giác ngộ
Buddha: Phật
Koṭīnāṁ: Một KOTI là tương đương với mười triệu
Tadyathā: Khi câu thần chú được phát biểu
Oṃ: Một từ linh thiêng đó được coi là một biểu tượng cho với âm thanh gốc của vũ trụ
Cale: Một biến thể tên của Phật Mẫu Chuẩn Đề
Cule: Thêm một biến thể tên của của Phật Mẫu Chuẩn Đề
Cundī: Sự thanh tịnh
Svāhā: Điều này là sự thật!

Thần Chú Chân Ngôn Âm Hán:

Khể Thủ Quy-Y Tô-Tất-Đế, Đầu Diện Đảnh Lễ Thất Cu Chi. Ngã Kim Xưng Tán Đại Chuẩn-Đề, Duy Nguyện Từ Bi Thùy Gia Hộ. Nam Mô Tát Đa Nẩm Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha. Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn-Đề, Ta Bà Ha


…tiếp tục kinh

Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, hay Ưu bà di nào thọ trì đà la ni này và đọc tụng đủ 800.000 biến, thời năm tội vô gián cùng tất cả những nghiệp tội đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay sẽ đều tiêu diệt. Ở mọi nơi sinh ra, họ đều gặp chư Phật và Bồ-tát. Họ sẽ có được tất cả các vật dụng như mong muốn. Đời đời họ sẽ thường được xuất gia và thọ trì trọn vẹn luật nghi tịnh giới của Bồ-tát. Họ sẽ thường sanh vào cõi trời người, không đọa vào ác thú, và luôn có chư thiên hộ vệ.

Nếu có thiện nam tín nữ nào tụng trì đà-la-ni này, thì gia đình của họ sẽ không gặp tai nạn và bệnh tật não hại. Mọi việc làm của họ sẽ thuận lợi. Lời nói của họ sẽ được mọi người tin tưởng.

Nếu có ai tụng chú này đủ 100.000 biến, thời ở trong mộng họ sẽ thấy được chư Phật, Bồ-tát, Thanh Văn, hay Duyên Giác, và còn tự thấy trong miệng ói ra vật đen.

Nếu ai phạm trọng tội thì hãy tụng đủ 200.000 biến, thời ở trong mộng họ cũng thấy chư Phật Bồ-tát và cũng tự thấy mình ói ra vật đen.

Nếu ai phạm năm tội ngỗ nghịch thì sẽ không có mộng lành như thế. Trong trường hợp đó, họ phải nên tụng đủ 700.000 biến, thời sẽ được điềm tướng như ở trước. Hoặc cho đến ở trong mộng, họ tự thấy mình ói ra vật màu trắng tựa như là cháo sệt. Phải biết đây là dấu hiệu thanh tịnh và tội của người ấy đã diệt trừ.

Tiếp theo đây, Ta sẽ giải thích phương thức để dùng đại đà-la-ni này.

1. Nếu lấy phân của con bò đen trát lên khu đất sạch ở trước tượng Phật hoặc ở trước tháp để làm một Pháp đàn hình vuông với kích cỡ tùy theo hoàn cảnh. Lại tùy theo khả năng của mình mà dùng hương hoa, tràng phan, lọng che, ẩm thực, và đèn đuốc để cúng dường. Lại tụng chú vào nước hương và rưới xung quanh trên dưới để kiết giới. Ở bốn phía góc và chính giữa của mạn-đà-la đều đặt một bình nước hương. Người trì chú ở trong Pháp đàn, mặt xoay về hương đông, gối phải quỳ, và tụng chú 1.080 biến. Những bình nước hương liền tự động xoay chuyển. Kế đến, hai tay bưng nhiều loại hoa khác nhau, chú 1.080 biến, và rải lên bề mặt của một tấm gương. Hành giả lại nhìn thẳng vào tấm gương ở trước và cũng tụng chú 1.080 biến, thời sẽ thấy được hình tượng của Phật và Bồ-tát. Một lần nữa, hãy chú 108 biến vào những bông hoa như ở trước và rải cúng dường chư Phật Bồ-tát. Sau đó, hành giả sẽ nhận được câu trả lời của bất cứ điều gì muốn hỏi.

2. Nếu mắc bệnh do ma quỷ gây ra, hãy chú vào bó cỏ tranh và phẩy qua người bệnh, lập tức sẽ khỏi.

  • Nếu có trẻ nít nào bị ma nhập, hãy sai một đồng nữ xoắn chỉ ngũ sắc làm thành sợi dây. Cứ mỗi lần chú xong một biến thì hành giả cột thành một gút, niệm đủ 21 biến, rồi đeo trên cổ đứa bé. Sau đó, chúbảy biến vào những hạt cải và rải lên mặt của nó, lập tức sẽ khỏi.

  • Lại có một cách khác là vẽ hình của người bệnh trên một miếng giấy, rồi dùng cành liễu đã trì chú đánh vào hình vẽ người bệnh ở trước mặt của họ, lập tức sẽ khỏi.

  • Lại có một cách khác để trị người bị ma nhập ở nơi xa. Hãy chú bảy biến vào cành liễu, rồi đưa cành liễu cho người sẽ đến đánh hình vẽ người bệnh ở trước mặt của họ, lập tức sẽ khỏi.

3. Nếu có ai trên đường đi mà tụng chú này, thời họ sẽ không sợ gặp phải giặc cướp hay thú dữ.

4. Nếu có ai thường trì chú này, không một cuộc tranh tụng nào mà chẳng thắng. Giả sử họ muốn băng qua sông hồ hay biển lớn, hãy tụng chú này trước khi đi thì sẽ không gặp nạn thú dữ ở trong nước.

5. Nếu có ai bị xiềng xích hay giam cầm trong lao ngục, hãy tụng chú này thời liền được giải thoát.

6. Nếu có quốc gia nào gặp lũ lụt và hạn hán thất thường, hoặc dịch bệnh hoành hành. Hãy trộn chung bơ, hạt mè với gạo trắng, rồi dùng ba ngón tay móc lấy một dúm, chú một biến lên nó, và rảy vào trong lửa. Ngày đêm sáu thời, hãy thực hành phương pháp này liên tục không gián đoạn suốt bảy ngày bảy đêm. Sau đó, tất cả tai ương và dịch bệnh thảy đều diệt trừ.

7. Lại có một Pháp là in hình tượng của tháp lên bờ sông hay trên bãi cát. Khi tụng chú đủ 600.000 biến rồi ấn xuống để làm thành hình tượng của tháp, họ sẽ thấy Quán Thế Âm Bồ-tát, Đa-la Bồ-tát, hay Kim Cang Thủ Bồ-tát. Hết thảy sở cầu đều được tùy tâm mãn nguyện. Hoặc thấy Bồ-tát cho tiên dược, hoặc thấy Bồ-tát thọ ký quả Bồ-đề cho họ.

8. Lại có một Pháp trong lúc đi nhiễu bên phải hình tượng của cây Bồ-đề, hãy tụng chú đủ 10 triệu biến, họ sẽ lập tức thấy Bồ-tát thuyết Pháp cho họ. Như họ muốn theo Bồ-tát thì liền được tùy tùng.

9. Lại có một Pháp trong lúc đi khất thực, hãy luôn trì chú này, thời họ sẽ không bị ác nhân, chó dại, hoặc gặp những việc khác như thế não hại.

10. Nếu có ai ở trước tháp, hoặc ở trước tượng Phật, hoặc ở trước tháp có xá-lợi mà trì tụng chú này 300.000 biến, rồi lại vào ngày rằm của đêm trăng sáng, họ thiết đại cúng dường và chánh niệm tụng chú suốt một ngày một đêm mà không ăn. Họ sẽ thấy Kim Cang Thủ Bồ-tát và còn được Bồ-tát dẫn người ấy đến cung điện của ngài.

11. Lại có một Pháp là đi đến ở trước tháp mà Đức Phật chuyển Pháp luân đầu tiên, hoặc ở trước tháp của nơi Đức Phật đản sanh, hoặc ở trước tháp mà Đức Phật bước xuống bực thềm báu từ trời Đao-lợi, hoặc ở trước tháp có xá-lợi. Nếu ở trước các tháp như vậy mà tụng chú và đi nhiễu bên phải, thời họ sẽ liền thấy A-bát-la-thị-đa Bồ-tát và Ha-lợi-để Bồ-tát. Tùy theo sở cầu của người ấy, các ngài thảy đều mãn nguyện cả. Giả sử họ cần tiên dược, các ngài liền cho tiên dược. Các ngài lại vì họ mà thuyết Pháp và chỉ bày Bồ-tát Đạo.

Nếu có ai tụng đà-la-ni này, mặc dù vẫn chưa ngồi Đạo Tràng, nhưng sẽ luôn có tất cả Bồ-tát làm thiện hữu của họ.

Lại nữa, Pháp đại Chuẩn-đề đà-la-ni này là đại minh chú. Tất cả chư Phật quá khứ đã tuyên thuyết. Tất cả chư Phật vị lai sẽ tuyên tuyết. Tất cả chư Phật hiện tại đang tuyên thuyết. Ta nay cũng tuyên thuyết như vậy, là vì muốn lợi ích cho hết thảy chúng sanh và khiến họ đắc vô thượng Bồ-đề.

Giả sử có chúng sanh nào phước bạc, không có chút căn lành, không có căn khí, hay chẳng có Pháp Bồ-đề Phần, mà nếu nghe được Pháp đà-la-ni này, thời họ sẽ mau chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nếu ai có thể luôn nhớ tụng trì chú này, họ sẽ thành tựu vô lượng căn lành.”

Khi Phật thuyết Pháp Đại Chuẩn-đề Đà-la-ni này, có vô lượng chúng sanh xa rời trần cấu và đắc đại minh chú công đức của Đại Chuẩn-đề Đà-la-ni. Họ thấy chư Phật, Bồ-tát, và các thánh chúng trong mười phương. Sau đó, họ đảnh lễ Phật rồi cáo lui.

Nguồn bài kinh biên soạn và chỉnh sửa từ: Tạng Thư Phật Học


 

  • Tâm Tịnh biên soạn trang này để bổ sung thêm cũng như khích lệ và ủng hộ mọi người, nếu có điều gì sơ sót xin quí vị hoan hỷ.
  • Chân Thanh Mỹ chỉnh sửa bài.

Chia sẻ là yêu thương! - Sharing is caring!

%d bloggers like this: