Tiểu Thừa, Đại Thừa, Tantra, Và Dzogchen

Nuden Dorje
 
* Tiểu thừa, Đại Thừa
 
Nói chung, những giáo lý của Phật bắt đầu với cái được gọi là con đường tiểu thừa (hinayana), chú tâm vào việc tách lìa khỏi sanh tử. Trong cách tiếp cận thế giới này, bạn dùng nhiều thời gian suy nghĩ kinh nghiệm đời sống đáng sợ như thế nào. Chúng ta làm như vậy để phá hoại khuôn khổ của sự gán ghép ý nghĩa cho những sự vật trong thế giới của chúng ta. Chẳng hạn, bạn phải suy nghĩ thân này đầy những chất ghê tởm như mủ, máu, gân, xương, nước tiểu, phân và thân người khác cũng như vậy thì tham muốn của bạn phải giảm sút.
 
Nếu chúng ta muốn từ bỏ sanh tử và thoát khỏi nó, luôn luôn dễ hơn nhiều khi nghĩ về những lỗi lầm của những người khác. Trong phần từ bỏ mọi đối tượng kích thích những giác quan đẩy chúng ta vào tham hay sân, mọi thứ làm mạnh thêm sự nối kết của chúng ta với thế giới cần phải được dừng lại.
 
Tuy nhiên trong cái thấy nyingma mà chúng ta nỗ lực thực hành, chúng ta dùng những yếu tố then chốt của quan điểm từ bỏ này và hòa nhập chúng. Thay vì thực sự tin tưởng sanh tử là một chốn khó khăn, chúng ta dùng ý tưởng này như một áp lực chiến thuật để cố gắng đánh bật khuôn khổ của sự bám luyến của chính chúng ta. Điều đó nghĩa là chúng ta dùng thái độ như một phương pháp giúp chúng ta bớt bám chấp vào những ám ảnh bình thường của mình để cho chúng ta có nhiều không gian hơn để nhận biết cái gì là thật tánh của hiện hữu chúng ta. Và rồi trong con đường đại thừa chúng ta khai triển trí huệ và lòng bi cùng nhau và chúng ta lập lại điều này để có nhiều không gian hơn nữa. Nếu chúng ta cam kết giúp đỡ những người khác, chúng ta sẽ không thể làm điều này nếu tiếp tục bị ám ảnh bởi tự ngã.
 
Trong con đường tiểu thừa chúng ta nói thế giới là xấu và muốn ra khỏi nó đến độ có một xung đột giữa chúng ta và thế giới. Nhưng trong con đường đại thừa chúng ta cố gắng nội tâm hóa sự xung đột khiến nguyện vọng tốt đẹp và giúp đỡ người khác của chúng ta xung đột với nghiệp xấu ích kỷ của chúng ta. Mặc dù đặt người khác lên trước nhất, nhưng cái ta ích kỷ và người luôn luôn có xung đột. Và giải pháp thực sự trong đại thừa là chiến đấu, khi người ta tự nguyện trải qua nhiều đời để giúp đỡ những người khác. Đó là dấn thân trực tiếp với những biểu lộ của giới hạn, và tịnh hóa nó qua trí huệ.

(more…)

Đức Hiếu

Hiếu là một giá trị sống tốt đẹp có trong mọi nền văn hoá. Ở Việt Nam chúng ta, hiếu là một trong những phạm trù quan trọng được cả Phật giáo và Nho giáo đề cao, Nho học chú trọng vào đời sống gia đình, xã hội nên giá trị sống hiếu được cổ xuý nhiều. Nhưng vì Nho học được phát triển trong bối cảnh chế độ quân chủ nên khái niệm hiếu cũng bị giới hạn. Và theo cảm thức thông thường, cái gì giới hạn đều thường phát sinh ra sự mâu thuẫn, xung đột. Không được đặt trong một thế giới quan rộng lớn, chữ hiếu, mặc dù là một yếu tố quan trọng của đạo làm người, nhưng có khi lại gây ra những thảm kịch, như chúng ta thường thấy trong văn học, phim ảnh của Trung Hoa. Chẳng hạn, vì hiếu mà phải giết cha người khác để trả thù cho cha mình; vì hiếu mà phải bán mình để chuộc cha… Trong khi đó, xuất gia để thiết thực lo cho mình, cho người thì lại xem là “bất hiếu”… Và trong thời đại ngày nay, nếu cha mẹ ly dị, hay một trong hai người qua đời, thì để giữ lòng hiếu, chắc là phải thù ghét vợ sau hay chồng sau của cha mẹ mình.
 
Trong bối cảnh Phật giáo, hiếu được nhìn trong một viễn cảnh rộng lớn, và vì rộng lớn nên ít gây nên mâu thuẫn xung đột. Không những thế còn nâng cấp con người đến chỗ hoàn thiện. Trước hết, chúng ta thấy có ba yếu tố cấu thành lòng hiếu: tình thương yêu, sự kính trọng và ơn nghĩa.
 

(more…)

Những Điều Nên Làm Trong Lúc Lắng Nghe Giáo Pháp

Patrul Rinpoche
 
1. Bốn Ẩn Dụ
 
Trong Kinh Hoa Nghiêm có nói:
 
Thiện nam tử,
Ông nên nghĩ bản thân ông như người bị bệnh,
Giáo Pháp là phương thuốc,
Vị Thầy tâm linh là một thầy thuốc khéo léo,
Và thực hành tinh tấn là cách thức để hồi phục.
 
Chúng ta bị bệnh tật. Từ vô thủy, trong biển khổ vô biên là vòng sinh tử luân hồi này, chúng ta đã bị hành hạ bởi bệnh tật do ba độc gây ra và hậu quả chính là ba loại đau khổ.
Khi người ta bị bệnh nặng, họ đi tham vấn một bác sĩ giỏi. Họ nghe theo lời khuyên của bác sĩ, dùng bất kỳ loại thuốc nào mà ông ta cho, và làm tất cả những điều có thể làm để vượt qua bệnh tật và trở nên khỏe mạnh. Tương tự, bạn nên tự mình điều trị những bệnh tật của nghiệp, điều trị những cảm xúc tiêu cực và chữa lành đau khổ bằng cách tuân theo hướng dẫn của vị bác sĩ đầy kinh nghiệm, là vị Thầy tâm linh chân chính, và bằng cách sử dụng thần dược của Giáo Pháp. Việc theo chân một vị Thầy mà không làm theo những điều Ngài hướng dẫn thì cũng giống như không vâng lời bác sĩ, điều đó làm cho ông không có cơ hội để chữa lành bệnh cho bạn. Không uống thuốc của Giáo Pháp – có nghĩa là không áp dụng Giáo Pháp vào thực hành – thì cũng giống như có vô số thuốc men và những toa thuốc bên giường mà không bao giờ bạn chạm tới chúng.

(more…)

Chánh Hạnh Trong Khi Lắng Nghe Giáo Lý

Patrul Rinpoche
 
Ba Khiếm Khuyết Của Bình Chứa
 
Không nên lắng nghe như một chiếc bình bị lật úp. Không có khả năng nhớ được những điều bạn nghe thì giống như một cái bình bị thủng lỗ. Trộn lẫn những cảm xúc tiêu cực với những điều bạn nghe thì giống như một cái bình trong đó có chứa chất độc.
 
Bình lật úp. Khi bạn đang lắng nghe Giáo lý, hãy chú tâm lắng nghe những điều được nói ra và đừng để bản thân bị xao lãng bởi bất kỳ điều gì khác. Nếu không, bạn cũng sẽ như cái bình bị lật úp, không thể rót gì vào đó được. Mặc dù thân bạn đang hiện diện ở đó, nhưng bạn lại không nghe được một lời nào của giáo lý đang được giảng dạy.
 
Bình thủng lỗ. Nếu bạn chỉ lắng nghe mà không nhớ được bất kỳ điều gì bạn đã nghe hoặc đã hiểu thì bạn sẽ giống như một cái bình có một chỗ rò rỉ: cho dù có đổ vào đó bao nhiêu nước thì cũng sẽ không giữ lại được chút nào. Dù bạn có được nghe bao nhiêu giáo lý chăng nữa thì bạn cũng chẳng bao giờ có thể thấm nhuần được những giáo lý ấy hay đưa được những giáo lý ấy vào thực hành.
 
Bình chứa chất độc. Nếu bạn lắng nghe giáo lý với thái độ sai lầm, chẳng hạn như bạn mang trong lòng tham vọng trở nên nổi tiếng hay vĩ đại, hoặc lắng nghe với một tâm thức tràn đầy năm độc, thì Giáo Pháp chẳng những không giúp được gì cho tâm bạn mà Giáo Pháp ấy cũng sẽ bị biến đổi thành một thứ gì đó hoàn toàn không còn phải là Phật Pháp nữa, hệt như chất cam lồ được rót vào một bình chứa chất độc.
 
Đây là lý do tại sao Ngài Padampa Sangye, bậc hiền triết của Ấn Độ đã nói:
 

(more…)

Bốn Điểm Chính Yếu Về Thân, Ngữ, Tâm Và Pháp Thân

1. Thân
 
Tin thân thể là cứng đặc là điều gây ra tình trạng nô lệ;
Nếu con nhận biết nó là hóa thần, xuất hiện nhưng trống không, nó là Quán Thế Âm – Không có cái gì khác ngoài Khasarpani Cao Cả.
Trong sự nhận biết thân thể hóa thần, xuất hiện mà trống không, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
 
Chính tri giác bình thường của chúng ta về thân thể như là một cơ cấu cứng đặc của xương và thịt khiến nó thu hút khổ đau như một nam châm. Nhưng bằng cách tu hành những thực hành quán tưởng và trì chú, các bạn học cách phá tan sự trụ chấp của các bạn vào tính cứng đặc của thân; bằng cách tu hành tri giác thân các bạn như là thân trí huệ vô sanh, vô biên của Quán Thế Âm, các bạn có thể đạt đến trạng thái vượt thoát khỏi khổ đau. Thân thể của Quán Thế Âm, toàn khắp như bầu trời, thì chẳng phải thịt và máu cũng chẳng phải là cái gì cụ thể như một bức tượng. Hơn nữa, nó trong suốt như một cầu vồng, xuất hiện rõ ràng nhưng trống không và không có bản chất gì. Còn hơn nữa, Quán Thế Âm không chỉ là một hình ảnh – ngài đang sống, sáng rỡ với trí huệ, tình thương và thần lực, trả lời cho bất cứ ai chỉ làm một cử chỉ cầu nguyện hay trì tụng một biến mani.
 
2. Ngữ
 
Ý niệm hóa lời nói và âm thanh là điều gây ra vọng tưởng; Nếu con nhận biết nó là thần chú, âm vang nhưng trống không, nó là Quán Thế Âm – Không có cái gì khác ngoài Tiếng Rống của Sư Tử Thiêng Liêng. Trong sự nhận biết âm thanh là thần chú, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Khi sự quán tưởng thân hóa thần của các bạn rõ ràng và ổn định, trì chú, như được diễn tả trong đoạn về ngữ kim cương, sẽ nâng cao thêm sự thực hành của các bạn. Chữ thứ nhất của thần chú Quán Thế Âm, OM, tiêu biểu năm trí huệ; như chữ của tốt lành, nó bắt đầu của hầu hết thần chú. MANI nghĩa là “hạt ngọc”, PADME nghĩa là “hoa sen”, và HŪM là chữ bày tỏ và khẩn cầu sự toàn giác của Quán Thế Âm. Toàn bộ thần chú có thể chuyển dịch thành: “Ngài, Hạt Ngọc Hoa Sen, xin hãy ban cho toàn giác của ngài.” Bằng cách lập lại danh hiệu ngài trong thần chú sáu âm, các bạn nhớ đến và cầu khẩn những phẩm tính vô biên của ngài, như thể các bạn đang kêu gọi ngài từ khoảng cách xa. Để trả lời, lòng đại bi của ngài biểu lộ không phải dụng công tác ý, đáp ứng mọi mong muốn của các bạn.
 
Để ban phước gia bị những chúng sanh, Quán Thế Âm đã quán đảnh trao truyền quyền lực cho thần chú của ngài thành giống như chính bản thân ngài. Nó là âm vang của tánh Không vô sanh. Được viết ra, thần chú giải thoát bởi sự thấy; như là âm thanh nó giải thoát bởi sự nghe; khởi lên trong tâm thức, nó giải thoát bởi sự nhớ niệm; đeo trên thân, nó giải thoát bởi sự xúc chạm. Nếu các bạn làm cho mình quen tri giác mọi âm thanh như thần chú, các bạn sẽ không cảm thấy sợ hãi khi các bạn nghe những âm thanh kinh khủng của trung ấm. Qua thần chú của ngài, Quán Thế Âm thực hiện hoạt động bao la và bi mẫn của ngài trên một phạm vi vô cùng. Thế nên với sùng mộ nhiệt thành, nghe mọi âm thanh của vũ trụ như tiếng phản hồi của thần chú, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
 

3. Tâm thức

 
Bám chấp vào những tri giác của tâm thức như là thật là sự mê lầm tạo ra sanh tử; Nếu con để cho tâm thức trong trạng thái tự nhiên của nó, tự do với những tư tưởng, nó là Quán Thế Âm – Không có cái gì khác ngoài sự Thoải Mái Thiêng Liêng trong Tâm Tối Hậu. Trong tâm tối hậu, Pháp thân, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Người ta thường nói, “Hãy thiền định! Hãy thiền định!” nhưng trừ phi các bạn đã thiết lập một cái hiểu vững chắc và không sai lầm về cái thấy tánh Không, cái gì là điểm để thiền định? Không nhận biết bản tánh trống không của tâm thức chính là nguồn gốc đích thật của sanh tử. Bản tánh trống không này, với lòng bi nội tại vốn có của nó, được nhận biết khi tâm thức, tự do với những ảnh hưởng của tư tưởng, thức tỉnh với tánh giác đơn giản của cái hiện tại.
Thả lỏng dây cương, những tư tưởng tạo ra toàn bộ sanh tử. Không được nghiên cứu, khảo sát, chúng giữ lại những hình tướng biểu kiến của chúng và do đó sức mạnh để kéo dài sanh tử của chúng. Tuy nhiên không có tư tưởng nào, tốt hay xấu, có được hiện hữu sờ nắm được dù nhỏ nhất. Không có ngoại trừ nào, những tư tưởng đều hoàn toàn trống không, như một cầu vồng dù có xuất hiện rực rỡ và sống động năm màu trên bầu trời, cũng chẳng thể nào nắm bắt, mặc lấy như áo quần hay được dùng theo cách nào khác. Tánh Không tuyệt đối không biến đổi bởi bất kỳ thứ gì, ngay cả khi nó bị che đậy với cái thấy do những che ám mặt ngoài. Thật vậy, những che ám này không phải là những thứ có thật cần phải dẹp bỏ, bởi vì khoảnh khắc chúng ta nhận ra bản tánh trống không của chúng thì chúng biến mất hoàn toàn. Khi sự mê vọng của những tư tưởng che ám biến mất, tâm thức trở lại tự do và thanh tĩnh, an trụ trong tự tánh của nó một cách không khởi sức. Đây là ý nghĩa của danh hiệu Thoải Mái Trong Tâm Tối Hậu của Quán Thế Âm.
 
Bầu trời không bao giờ bị quấy nhiễu hay thay đổi bởi sự hợp tan của những đám mây. Bầu trời không nuôi hy vọng những cầu vồng sẽ khởi lên cũng không chịu thất vọng nếu chúng không khởi. Tâm kim cương của Quán Thế Âm không hề rời khỏi bản tánh tuyệt đối, bất kể hoạt động từ bi cho chúng sanh của ngài có rộng rãi hay tỏa khắp bao nhiêu. Xuất hiện cho chúng sanh trong vô vàn cách, trong thật tế ngài không bao giờ lìa khỏi tánh Không.

(more…)

Tính Tỉnh Thức Tự Giải Thoát

Padmasambhava
 
Kính lễ bậc Sanh Nơi Hoa Sen của Uddiyana.
 
Đây Là Những Giáo Huấn Nói Miệng Trong Đại Ấn.
 
Đạo sư của Uddiyana nói: Hãy nghe, Tsogyal. Khi dạy những giáo huấn trực tiếp của Đại Ấn, có bốn điểm: Đại Ấn của cái thấy, Đại Ấn của thiền định, Đại Ấn của quả, và Đại Ấn của tu hành.
 
Trước hết, về Đại Ấn của cái thấy, một tantra nói:
Đại Ấn của cái thấy là bản tánh cơ bản của tâm,
Với không có cái gì để chứng minh hay bác bỏ.
Theo cách này, Đại Ấn không có chỗ nương tựa, không có điểm quy chiếu, bản tánh là vô sanh và không chết qua các hoàn cảnh. Trò chơi của nó là không giới hạn và là trạng thái tự nhiên, bản tánh căn bản của tất cả mọi cái có thể được biết.
 
Hơn nữa, những đức hạnh của nó không cần sản xuất ra và cũng không có khuyết điểm phải loại bỏ, tương tự tin một sợi dây là con rắn. Chính ý niệm con rắn là sai lầm chứ không phải sợi dây; dù ngay cái nhìn đầu tiên nó có vẻ là một con rắn, con chứng ngộ rằng nó chỉ là một sợi dây. Sợi dây không cần được chứng minh mà con rắn cũng không cần được bác bỏ, dù một chút nhỏ. Trong cách ấy, bản tánh căn bản của mọi sự vật chính nó là bản tánh của Đại Ấn. Thế nên không cần tạo ra tính tỉnh thức không có tư tưởng và cũng không có tư tưởng cần loại bỏ. Tỉnh thức không có tư tưởng là trực tiếp hiện diện khi đang tư tưởng, và như vậy – không thuộc về phạm trù như thường hay đoạn, hoặc người tri giác hay cái được tri giác – nó được biết là thanh tịnh bổn nguyên và toàn thiện.

(more…)

Chìa Khóa Cho Thành Công Trong Mọi Nỗ Lực Là Quyết Tâm Bên Trong

Đức Dilgo Khyentse Rinpoche
 
Dĩ nhiên điều chúng ta muốn là sự tốt đẹp của chính chúng ta,
 
Thế nên chúng ta phải thành thật với chính mình:
 
Nếu chúng ta không thành tựu tinh túy của Pháp cho chính
chúng ta,
 
Thì chẳng phải chúng ta đang hủy hoại chính cuộc đời mình sao?
 
Không có ai có ý định xấu với mình. Người ta không bao giờ nghĩ đến chính mình tốt đẹp biết bao nhiêu nếu mắc bệnh, cũng không mong mỏi bị tàn tật hay nghèo khó hay mong cho bị trộm cướp; điều họ nghĩ là họ muốn được hạnh phúc biết bao nhiêu, và cả một sự thích thú nếu giàu có và tiện nghi. Nhưng những ý tưởng này đến từ đâu? Chúng đến từ sự tin tưởng vào một cái “tôi”. Chính vì sự tin tưởng bắt rễ sâu xa này mà chúng ta bận bịu trước hết với hạnh phúc của chính chúng ta. Trong khuôn khổ này của tâm thức, chúng ta sẽ không bao giờ thỏa mãn. Ngay dù chúng ta có lên ngôi hoàng đế của toàn thể vũ trụ, chúng ta cũng còn tham muốn nhiều quyền lực, sung túc và lạc thú hơn nữa.

(more…)

Lời Nguyện Đại Ấn

Karmapa Rangjung Dorje thứ Ba    

(1)

Trong Mạn đà la con thấy Guru, Bổn tôn và các Thánh,

Trong mọi lúc mọi phương con thấy chư Phật và chư Bồ tát,

Với thành tâm sâu xa con cầu nguyện tất cả các ngài;

Ban phước cho những ước nguyện của con.

(2)

Những nghiệp thiện của tâm và thân

Và những công đức của tất cả chúng sanh

Là những dòng suối sạch trong từ Núi Tuyết.

Nguyện chúng tự do đổ về biển cả

Của Bốn Thân của Phật quả bao la.

(3)

Qua mọi đời tương lai của con

Nguyện con không nghe những từ

Như “khổ đau” và “tội lỗi”

Nguyện con luôn luôn

Chia xẻ niềm vui và cái tốt đẹp

Trong đại dương Pháp bao la. (more…)

Sự Đản Sanh Hy Hữu Của Bậc Đại Nhân

Ở đây, Đức Phật nói với Ananda, vị đệ tử thị giả thân cận.
Trước đó, Đức Phật đã kể cho Ānanda những điều hy hữu liên quan đến sự nhập thai và đản sanh của Ngài, và giờ đây Phật bảo Ananda thuật lại cho các tỳ-kheo khác nghe để họ được khích lệ.
 
Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
 
‘Này Ananda, thật vậy, ông có thể tán thán thêm đầy đủ hơn nữa những phẩm tánh của Như lai, kỳ diệu, chưa từng có’.
‘Bạch Thế Tôn, đây là điều con thân nghe từ chính kim khẩu của Thế Tôn.:
 
“(Thế Tôn đã nói với con:) Này Ananda, Bồ-tát chánh niệm và tỉnh giác khi tái sinh lên cõi trời Tusita (Đâu-suất).”
Bạch Thế Tôn, con nhận thấy đây là một phẩm tánh của Như lai, kỳ diệu, chưa từng có.
 
“Này Ananda, Bồ-tát chánh niệm và tỉnh giác an trú trong cõi trời Tusita.” Bạch Thế Tôn, con nhận thấy đây cũng là một phẩm tánh của Thế Tôn, kỳ diệu, chưa từng có.
 
“Này Ananda, chánh niệm và tỉnh giác, cho đến trọn thọ mạng của mình, Bồ-tát an trú trong cõi trời Tusita.” Bạch Thế Tôn, con nhận thấy đây cũng là một phẩm tánh của Thế Tôn, kỳ diệu, chưa từng có.
 
“Này Ananda, Bồ-tát chánh niệm và tỉnh giác khi mạng chung từ cõi trời Tusita và giáng thần mẫu thai.” Bạch Thế Tôn, con nhận thấy đây cũng là một phẩm tánh của Thế Tôn, kỳ diệu, chưa từng có.
 
“Này Ananda, khi Bồ-tát mạng chung từ coi trời Tusita và giáng thần mẫu thai, một vầng sáng bao la, thần diệu, vượt xa oai lực của chư thiên hiện ra trong thế gian cùng với chư thiên, Ma, Phạm“, cùng với dân chúng, sa-môn, bà-la-môn, vua chúa và quần chúng. Cho đến các thế giới trung gian kinh khủng ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám, nơi mà mặt trăng mặt trời, có đại thần lực và đại oai lực như vậy, cũng không thể rọi thấu; ở đó cũng có một vầng sáng bao la hiện ra, vượt xa oai lực của chư thiên. Và các chúng sanh sanh vào những chỗ ấy liền trông thấy nhau do vầng sáng ấy, bèn bảo nhau: ‘Này bạn, vậy cũng có những chúng sanh khác sanh vào chỗ này.’ Và mười ngàn thế giới hệ này chuyển động, rung động, chuyên động mạnh, và vấng sáng bao la, thần diệu, vượt xa oai lực của chư thiên hiện ra trong thê giới.”
 
Bạch Thế Tôn, con nhận thấy đây cũng là một phẩm tánh của Thế Tôn, kỳ diệu, chưa từng có.

(more…)

Đi Vào Con Đường Đại Ấn

Khenchen Thrangu Rinpoche

 [121]     Để đi vào Pháp chúng ta phải dấn thân vào nghe, chiêm nghiệm, và tham thiền. Hơn nữa chúng ta cần dựa vào một người bạn tâm linh (thiện tri thức) dạy chúng ta tham thiền và Pháp. Một người bạn tâm linh tốt phải là một người chúng ta kính trọng và có thể dạy con đường chính thống của Pháp. Bởi vì chúng ta đang sống với loài người, khó mà tìm thấy người nào đã loại trừ một trăm phần trăm mọi lỗi lầm và đã khai triển một trăm phần trăm những phẩm tính tốt. Nhưng chúng ta phải tìm kiếm người có thể dạy con đường chính thống đích thực và dạy nó tốt.

Sau khi tìm thấy một người bạn tâm linh tốt, chúng ta phải dấn thân vào giữ giới, là căn bản của mọi phẩm tính tốt. Giới luật là chúng ta phải làm những việc đứng đắn và bỏ những việc không thích đáng. Rất tốt nếu chúng ta có thể giữ giới luật của người xuất gia, nhưng điều này không tuyệt đối cần thiết. Như chúng ta đã thấy, trong truyền thống Kagyu có nhiều thí dụ những người từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau đã nhận những giáo pháp đại ấn, rồi thực hành và đạt đến chứng ngộ cao nhất. (more…)